QUÊ QUÁN TÔI XƯA- Lê Đức Dục

QUÊ QUÁN TÔI XƯA- Lê Đức Dục
DONGHUONGQUANGTRI.COM »
25/10/2016 | 10:37

QUÊ QUÁN TÔI XƯA..Tùy bút củaLê Đức Dục


Đấy chính là quê nhà thương khó của đời tôi.

Của hương hỏa riêng mang mà lắm khi quay quắt nhớ , không chỉ lúc lang thang xứ lạ quê người mà ngay cả khi ngồi trên bờ cỏ bên sông sau nhà hay ngã mình trên đống rơm vàng góc vườn sau mùa gặt, cái miền quê mơ hồ đâu đây cứ vọng về trong trí nhớ.

"Quê quán tôi xưa”, Trịnh Công Sơn đã có một câu hát như bay về từ hư không"Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa, giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì…”Sau này anh Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) có cắt nghĩa rằng quê quán tôi xưa của nhạc sĩ không phải là cái làng Minh Hương phía bắc thành phố Huế, mạn cảng cũ Bao Vinh đi về.Nỗi nhớ "quê quán tôi xưa” của Trịnh chính là cái vườn địa đàng xa thẳm, cũng như những nghệ sĩ lớn, như Lý Bạch ví mình là một trích tiên bị lưu đày, như Văn Cao lạc bước từ chốn Đào Nguyên về trần gian, và nhiều nhiều người nữa, bởi, "cõi tiên không gì khác hơn là khát vọng hằng có nơi người nghệ sĩ của muôn đời” (HPNT).

Mới đây trong một tùy bút của một nhà văn trẻ cũng lấy tựa "Quê quán tôi xưa” để trang trải nỗi hoài nhớ quê nhà khi cô đang ở tận xứ sương mù Anh quốc. Đất khách quê người, nỗi nhớ hẳn mênh mang trĩu nặng khôn cùng.

Nhưng đâu cần chi trời Âu bể Á, dân Quảng Trị quê tôi do hoàn cảnh lịch sử của vùng đất, lưu lạc nhiều vào phương Nam, đâu cũng gặp họ, và nỗi nhớ quê quán thường trực trong mỗi người, nhất là độ Tết như thế này. Ngày xưa sự cách trở muôn phần quan san bởi chiến tranh, bởi cuộc sống cơ cầu, bởi đò giang ngăn lối, nhưng nay chỉ một giờ bay với Vietnam Airline là từ Sài Gòn đã ra đến Huế, một giờ xe đò nữa thì chạm mặt quê hương, biết là như vậy nhưng mà sao đường về quê nhà cứ cảm giác cách ngăn một màn mưa sương hoang hoải. Nỗi nhớ ấy khiến ai cũng thành nhà thơ. Tôi chưa thấy có hội đồng hương nào mà cứ độ Tết về thế này lại ra những tập san như hội đồng hương Quảng Trị ở các tỉnh thành. Cũng không phải văn chương huê dạng chi nhiều, chỉ nhắc mãi nhắc hoài chuyện tiếng quê trọ trẹ, chuyện mái đình cây đa, chuyện mưa sa nước sỉa, ăn món này, nấu món kia,… năm nào cũng vậy, sách in ra rồi đọc, rồi ngâm ngợi, vậy mà nỗi nhớ ấy viết mãi năm này qua năm nọ không hết.

Ai cũng có một "quê quán tôi xưa” trong mịt mùng hoài nhớ

Và cái nỗi nhớ ấy luôn khản khắc trong tôi như khi đi qua miền đất này vùng quê nọ, gặp bóng xưa rêu phong trong ngôi miếu cổ, một dáng cổ thụ đầu thôn, nước giếng làng soi bóng… thì cái "giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì” vang lên từ quê nhà cứ khắc khoải như tiếng cuốc đêm hè. Nói nhớ như vậy cũng có căn nguyên của nó!

Năm kia, đi dự hội thảo lịch sử về triều đại nhà Nguyễn ở Thanh Hóa, khi đứng trước bức không ảnh chụp lăng miếu Triệu Tường ngày xưa nguy nga lộng lẫy đã thành bình địa sau bao dâu bể nỗi đời thì cái miền ký ức quê nhà hương hỏa ấu thơ lại hiện về mồn một.

Không phải là những đền đài chùa miếu uy phong , nhưng ký ức hoa râm của mái đầu đủ lặn lội nhớ về những dấu xưa man mác một quê quán thanh bình và nho nhã, thâm hậu mà huyền hoặc.

Quê tôi không có những đền to miếu lớn, cũng không có ai danh thần khoa bảng gì, một ngôi làng bình dị như muôn ngôi làng khác nơi miền đất gió cát. Và cũng vì thế mà nó mang vác một số phận như bao nhiêu ngôi làng nhỏ bé ấy, sau những bể dâu bom đạn, sau những bể dâu trên đời dân phận người, bể dâu trên những dấu tích tiền nhân từng may mắn vẹn nguyên đi qua chiến tranh nhưng lại bị xóa dấu sau ngày hòa bình!

Nỗi nhớ bắt đầu từ cái giếng hình vuông được kè bằng đá, bốn mùa nước trong vắt.Bây giờ lớn lên mới biết kiểu giếng ấy là của người Chàm chứ thời thơ dại chỉ mơ hồ biết đấy là cái giếng "thiêng”. Quê tôi hồi đó chưa có hồ đập thủy lợi, khát là nỗi ám ảnh của mùa hè khi gió Lào thổi ràn rạt , nước sông khô kiệt rong rêu và lòng giếng nào cũng trơ đáy, thế nhưng cái giếng Chàm với cây duối cổ thụ ngã bóng luôn ăp ắp nước ngọt, ngọt như những trái duối chín vàng sum suê trên cành, mang những niềm vui cho tuổi thơ chăn trâu cắt cỏ.

Cũng trong xóm tôi có một chổ để thờ đạo học gọi là Văn Thánh, bà con trong xóm gọi là "Nương” Thánh- "nương” chính là cách gọi cái vườn quê của người dân Quảng Trị. Chổ đó sau ngày hòa bình cỏ cây lên rậm rạp, nhiều rắn, không còn ai cúng lễ bởi sẽ bị coi là "mê tín dị đoan”. Văn Thánh ở xóm tôi không to lớn kỳ vĩ nhưng sau này lớn lên, nhớ về nó, tôi thường bâng khuâng nhớ câu thơ xưa củaNguyễn Bính .. "Nhà ta coi chữ hơn vàng-Coi tài hơn cả giàu sang trên đời…”.Cái nơi thờ tự những người hay chữ, tôn vinh đạo học của tiền nhân ấy nay cũng không còn.

Giếng Chàm, Văn Thánh, và nhiều nghè miếu u trầm chứa đầy những ký ức cổ tích của làng nữa đã thành bình địa trong những năm tiến lên "hợp tác hóa”, "toàn dân bài trừ mê tín dị đoan”. Máy ủi MTZ 50 chạy phăng phăng phía trước, những đứa trẻ nhếch nhác chạy sau "hôi” gạch. Tôi nhớ hôm xe ủi húc đổ tường thành miếu Văn Thánh, những viên gạch vồ đỏ au được gọt sạch lớp vôi làm hồ vữa, nhà nào cũng kiếm vài trăm viên về che chắn vuông sân, lát bể nước…Tôi cũng bon chen mang mấy chục viên gạch vồ về làm bồn hoa thì mạ tôi thét vang " mang trả lại ngay, gạch thần gạch thánh đó”. Ôi mạ tôi, một người mù chữ nhưng trong sâu thẳm tâm can vẫn thành kính tôn thờ những dấu tích tiền nhân bằng những niềm mê tín hồn nhiên " của thánh của thần- ăn một đền trăm”.Ngày ấy , để làng tôi thành HTX "ngọn cờ đầu” với việc đồng ruộng liền bờ, không nhớ bao nhiêu dấu tích tiền nhân đã mất. Cũng như những mảnh rẫy mà để khai phá thành ruộng khoai, nương sắn không nhớ bao nhiêu người đã ngã xuống vì những quả bom còn ẩn sâu dưới đất sau ngày hòa bình…

Bốn mươi năm rồi, bao nhiêu mùa gió Lào đã thổi qua miền đất này.Trên những mảnh vườn xưa kia là dấu tích văn hóa của tiền nhân nay đã thành đồng lúa, thành thổ cư, thành đường cao phố rộng. Biết làm sao được, cũng không biết vui hay buồn hay trách cứ ai, chỉ thấy ngậm ngùi tiếc nuối.

Đâu chỉ là chuyện dấu tích tiền nhân, gần gũi nhất là khu trung tâm thủ phủ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được xây năm 1973, khi bom đạn đã im ắng trên miền quê tôi. Có lẻ ngày ấy không ai nghĩ đến chuyện di tích chứng tích khi trên hai vai người dân trĩu nặng mỗi ngày là nỗi lo toan cơm áo .Cho nên khu trụ sở bề thế xinh đẹp mang nặng dấu ấn lịch sử ấy cũng bị hoang tàn mai một và trận bão số 8 năm 1985 đã xóa sạch dấu vết.Đã mấy lần trên địa điểm ấy được xây khu lưu niệm, tượng đài, cố phục dựng nguyên bản nhưng làm sao có được dáng nét khi xưa, hồn vía chứng nhân đã bặt tăm sau bê tông tôn thép vô hồn vô cảm.

Mới 40 năm đã như thế trách gì chuyện những dấu tích tiền nhân đã hàng trăm năm?

Lan man chuyện quê nhà chợt bần thần nhớ ra những làng quê khác.

Cũng như chuyện lăng miếu Triệu Tường ở Thanh Hóa mà tôi vừa nhắc.

Hôm về làng Trà Liên tìm lại dấu vết của chúa Nguyễn trong buổi đầu khởi nghiệp tôi đã không thể tin được trên nền cũ của ngôi chùa Liễu Ba thờ Thái phó Nguyễn Ư Dĩ (mà bức tượng đồng của ông nay được xếp vào hàng "bảo vật quốc gia”) sau khi chùa mất dấu thì nền chùa cũng không còn: Một khu lăng mộ của một dòng họ trong làng vô cùng bề thế đã được dựng lên trên chính nền chùa cũ. Những viên đá lót chân cột chùa vứt lăn lóc trong khu vực chùa xưa.

Bao nhiêu nữa dấu vết tiền nhân đã bị ứng xử như thế?

Chắc không phải là ít!

Nghề nghiệp khiến tôi đi đến nhiều vùng miền, đôi khi tò mò hỏi han về một dấu tích tiền nhân lại nghe những chuyện "phong trào” một thời đã khiến bao nhiêu dấu tích mất đi.Có ai thống kê hết bao nhiêu đền chùa đình miếu đã thành bình địa bởi những tư duy nông cạn một thời?

Thôi thì có nhắc cũng chỉ để hoài nhớ, bởi nếu phục dựng lại thì gạch đá bây giờ cũng không thể mang vác hồn cốt như khi xưa. Nhưng chắc chắn nếu có , nếu còn, những dấu tích u trầm đó của tiền nhân, hẳn nhiên tôi tin cái phần văn hóa làng mấy trăm năm ông bà đã ra công gìn giữ sẽ giúp cho hậu thế chút hương hỏa mang theo, với mỗi ngày đang sống trên quê nhà hay ra đi chân trời góc bể.Nó cân bằng cho con người giữa những chông chênh của nhịp đời chóng mặt theo tốc độ của những cuộc đua kim tiền mà quên đi những gì thực sự là "vàng đá” của đời người !

                                                                                              L.Đ.D

Xem thêm,xin mời vào trang Web:thienphuoc.com
Lên đầu trang   Trở lại  
 
Thơ & Truyện
MÃI MIẾT TÌM CON--Thơ Đào Trường San - 20/04/2020
ĐỨNG YÊN NHÉ---Thơ Đào Trường San - 14/04/2020
HẸN LẠI SAU MÙA COVID--Thơ Đào Trường San - 12/04/2020
MÙA XUÂN Ở LẠI-Thơ Nguyễn Văn Dùng - 02/04/2020
MƯA XUÂN NGÀY ẤY MẸ TÔI –Thơ Lê Luynh - 28/03/2020
KỶ NIỆM TUỔI THƠ-Thơ Nguyễn Hữu Thắng - 18/03/2020
CON VỀ--Thơ Nguyễn Văn Chức - 14/03/2020
NÔ LỆ CÀ PHÊ-Thơ Đào Trường San - 15/01/2020
HOÀN LƯỢNG-Truyện ngắn của Nguyên Hồng - 29/09/2019
LỜI NGUYỀN-Truyện ngắn: Trần Hoái Thắm - 22/08/2019
NỖI NHỚ- Thơ Đào Trường San - 31/07/2019
QUẢNG TRỊ TƯƠI VUI---Thơ ĐÀO TRƯỜNG SAN - 07/07/2019
GÁC SÚNG- Truyện ngắn:Đào Trường San - 24/06/2019
LẠ CHƯA ĐONG ĐẦY- Thơ Trần Hoài Thắm - 14/06/2019
HẠNH PHÚC VÀ CHIA SẺ - 03/06/2019
CHIỀU THẠCH HÃN- Thơ Nguyễn Văn Chức - 02/03/2019
CUỐI NĂM- Thơ Nguyễn Văn Chức - 26/02/2019
NGƯỜI VỀ- Thơ Văn Chức - 08/02/2019
TIẾNG RAO- Truyện ngắn :VĂN XƯƠNG - 08/02/2019
TÌM VỀ-Thơ Đào Trường San - 08/02/2019
YÊU MÃI GIO LINH---Thơ Tuyết mai - 18/09/2018
CHÁO BỘT- Thơ Đào Trường San - 22/08/2018
CHÙM THƠ CỦA NHÀ THƠ LÊ NGỌC PHÁI - 20/08/2018
CHÙM THƠ CỦA LÊ NGỌC PHÁI - 05/08/2018
HOÀNG HÔN- Thơ Đào Trường San - 05/08/2018
CUỘC CHIẾN CÒN LẠI-Truyên ngắn Đào Trường San - 03/08/2018
HOA GẠO ĐỎ BÊN SÔNG-Truyên của Văn Xương - 03/08/2018
CHIỀU THẠCH HÃN- Thơ Nguyễn Văn Chức - 04/05/2018
ĐÊM Ở BIỂN - 22/03/2018
CẢM ƠN MIỀN TRUNG- Thơ Đào Trường San - 19/09/2017
HOÀNG HÔN- Thơ Đào Trường San - 28/06/2017
LỤY ĐÒ- Thơ Đào Trường San - 29/05/2017
TÌNH VÀ NGHĨA- Truyện ngắn: Đào Trường San - 23/04/2017
BỤI NGƯỜI- Thơ VĂN CHỨC - 21/04/2017
LỜI NGUYỀN- Truyện nhắc: Trần Hoài Thắm - 11/04/2017
TÂM TÌNH MIỀN ĐẤT ĐỎ-- Thơ Nguyễn Hữu Thắng - 17/03/2017
GÓC QUÊ- Thúy Hà - 25/01/2017
TRƯỚC THỀM XUÂN- Thơ Đào Trường San - 02/01/2017
KHOẢNH KHẮC GIAO MÙA- Thơ Đào Mạnh Long - 04/12/2016
THỈNH CHUÔNG NƠI THÀNH CỔ- Thơ Trần Danh Tú - 09/11/2016
CHỢT THƯƠNG- Thơ Lê Luynh - 08/11/2016
THẦM THÌ NGHĨA TRANG- Thơ Đào Trường San - 07/11/2016
HẢY TRẢ TÔI VỀ- Thơ Nguyễn Văn Chức - 07/11/2016
MÁI NHÀ TRANH- Thơ Trần Hoài Thắm - 07/11/2016
MẸ VÀ QUÊ HƯƠNG- Thơ Đào Trường San - 06/11/2016
QUÊ QUÁN TÔI XƯA- Lê Đức Dục - 25/10/2016
KHẢO CHỔ ĐÊM- Thơ Nguyễn Văn Chức - 25/10/2016
PHẬN MUỐI- Thơ Lê Nguyên Hồng - 25/10/2016
BÊN TƯỢNG ĐÁ RÊU PHONG- Thơ Đào Trường San - 25/10/2016
 
Tìm kiếm
Tin bài mới nhất
Liên kết website